Những người làm chủ số 1 Việt Nam - Phần 2: “Em có rụng tóc như anh không?”
Thứ Sáu, 27 tháng 12, 2013
Khi nhắc tới Vua cà phê – không ai là không biết tới cái tên Đặng Lê Nguyên Vũ. 22 tuổi, nhận ra nghề y không phải là ước mơ của mình, Đặng Lê Nguyên Vũ kiên quyết từ bỏ để bắt đầu từ con số không với hạt cà phê. Câu chuyện này từng là một phần không thể thiếu trong các bài viết về “ông vua cà phê Việt”: Một điển hình lập nghiệp từ rất trẻ và thành công rất sớm, góp phần không nhỏ vào việc định vị thương hiệu cà phê Việt Nam từ thị trường trong nước tới quốc tế…
Trích đoạn sau đây trong cuốn sách “Những người làm chủ số 1 Việt Nam” của tác giả trẻ Đàm Linh sẽ giúp độc giả hiểu hơn về Đặng Lê Nguyên Vũ qua một góc nhìn khác.
Trích đoạn 2:
“Em có rụng tóc như anh không?”
Anh bảo với anh bây giờ, có ba mục tiêu lớn để hướng tới. Số một là đưa Trung Nguyên ra toàn cầu và đề xuất đem về cho ngành cà phê doanh thu 20 tỷ USD/năm. Số hai là đề xuất một chiến lược tầm nhìn 100 năm. Số ba là theo đuổi học thuyết cà phê toàn cầu. Mục tiêu số một là mục tiêu anh có khả năng làm nhất, đang thực hiện rồi và có nền tảng. Nhưng còn hai mục tiêu còn lại thì sẽ còn cần nhiều cố gắng. Khoan vội bàn tới việc sẽ thực hiện những mục tiêu này như thế nào, cái người viết băn khoăn trước nhất là tại sao với những bề bộn công việc của một nhà lãnh đạo doanh nghiệp, cùng những tham vọng lớn của một thương hiệu Việt, anh lấy đâu thời gian và tâm sức để trăn trở những mục tiêu còn lại?

Nhưng anh hóm hỉnh hỏi ngược lại: “Thế em có rụng tóc như anh không? Nhà anh không có ai rụng tóc đâu à nha.” Với Đặng Lê Nguyên Vũ, đó là những mục tiêu cả đời của anh, tư duy người bình thường khó mà hiểu được, đến cả gia đình còn ruồng bỏ. Không ai biết rằng hàng đêm anh chỉ ngủ có ba bốn tiếng, hai ba giờ sáng đã trằn trọc trở dậy, rằng sáng anh vẫn lo công việc chung nhưng đêm về anh lại dành cho riêng mình những đau đáu. Anh bảo những điều anh nói ra nghe thì dễ dàng nhưng nó thực sự không dễ dàng mà có, phải là sự trả giá ghê gớm. Dù thế nào đã quá trễ rồi và anh phải kiên quyết làm thôi.
Anh nhớ lại lúc đầu, sự nghèo khó ám ảnh anh vô cùng, nên động lực phấn đấu của anh là thoát nghèo. Cho tới khi thực hiện được tâm nguyện đầu tiên rồi, lại thấy hoàn cảnh đất nước vẫn còn quá nhiều người khó khăn, thấy cây cà phê của mình chưa được đặt vào đúng giá trị của nó, thì nảy sinh thêm những ước mơ còn lại. Có người bạn của anh là tỷ phú Israel, khi qua Việt Nam làm việc với chính phủ, trên đường đi ra sân bay, chứng kiến cảnh bà con mình cấy lúa trên đám ruộng nho nhỏ đã nói với anh “Ông Vũ, hàng ngàn năm rồi, ông có sứ mệnh chấm dứt điều này. Ông qua đất nước tôi rồi đó!” Đúng, anh biết, hàng ngàn năm rồi trên khắp Việt Nam, vẫn cung cách lao động ấy, vẫn hình ảnh lam lũ ấy, nghĩ tới nông dân Việt Nam là nghèo khổ, nghĩ tới nông thôn Việt Nam là lạc hậu. Trong khi anh may mắn được tới Israel và đã vô cùng sửng sốt trước thực tế một quốc gia Trung Đông nhỏ bé, tài nguyên thiên nhiên bằng không, hoang mạc bao phủ tới hai phần ba diện tích, một phần ba còn lại là sỏi đá khô cằn, nhưng đời sống của họ tự chủ và hiện đại hơn mình hàng chục lần (GDP 2011 của Israel là 32.123 USD/người/năm so với 1.392 USD/người/năm của Việt Nam – theo số liệu Liên hợp quốc). Việt Nam hội đủ những điều kiện để có thể nâng cao đời sống cho người nông dân – điều mà không phải quốc gia nào cũng có, những lợi thế về xuất khẩu nông sản: gạo, cà phê, chè, hồ tiêu… nhiều mặt hàng đứng nhất, nhì thế giới, điều kiện khí hậu thuận lợi, dân số đông... Nhưng đời sống người nông dân từ hàng ngàn đời nay, cứ như nghèo khổ đã là định mệnh của họ và không thể thay đổi. Đặng Lê Nguyên Vũ tuyệt nhiên cho rằng không có chuyện đó.

Sự nghèo khó là động lực để anh phấn đấu thoát nghèo
Tôi tiếp tục thắc mắc: Có nhiều ý kiến cho rằng cà phê Việt Nam hàng năm xuất khẩu thứ nhì thế giới, chỉ sau Brazil, thậm chí về sản lượng Robusta là đứng đầu thế giới. Nhưng loại cà phê phổ biến trên thế giới lại là Arabica? (PV- Phụ lục 1). “Nếu muốn em có thể lấy hết Arabica về, có ai cấm em đâu?” Vấn đề nằm ở chỗ, theo anh, biến đổi khí hậu đang khiến mọi nhu cầu tăng lên và nông nghiệp chính là “quyền lực mềm” trong bối cảnh an ninh lương thực như thế này. Nhưng Việt Nam lại không nắm được quyền lực mềm đó để điều khiển cuộc chơi, chưa biết làm thế nào để nâng nó lên hàng chục lần so với hiện tại. Nông nghiệp của ta vẫn chủ yếu phụ thuộc tự nhiên, đơn giản và dựa trên quán tính từ xưa tới nay. Đây là vấn đề lớn mà mình xác định phải làm lại. Bài toán đặt ra là nông nghiệp có gia tăng được diện tích hay không, trên diện tích ấy có gia tăng được số lượng, gia tăng chất lượng hay không? Có tạo được thêm giá mua cho người nông dân mình hay không? “Tây Nguyên mình không thiếu nước, Tây Nguyên không biết giữ nước và phân bổ nước. Bên Israel nó còn thiếu ghê gớm so với mình mà còn giải quyết được.” Anh biết, nhiều quốc gia không trồng được một hạt Arabica lẫn Robusta nào vẫn có doanh thu kinh doanh cà phê hàng tỷ USD mỗi năm. Tất cả là công nghệ hết, rồi đóng gói, trình bày, kể chuyện... Thực sự, cà phê có thể trở thành một “mỏ vàng đen tái tạo” cho Việt Nam và nếu biết cách, nó có thể là nguồn tài nguyên bền vững cho quốc gia và đem về doanh thu hàng chục tỷ USD, so với “mỏ vàng đen” – đang dần cạn kiệt là dầu thô hiện tại, cũng chỉ khoảng xấp xỉ 10 tỷ USD/năm. (PV – Phụ lục 3).
Đặng Lê Nguyên Vũ tâm sự: Ngoài những trăn trở cho Trung Nguyên và ngành cà phê, có một câu hỏi khác cứ đau đáu trong anh, là một trăm năm nữa, đất nước này sẽ trôi về đâu? Ai cũng sẽ đến một lúc nào đó, muốn lắng lại, và đặc biệt bản thân anh giờ này không hề muốn xuất hiện trên diễn đàn. Anh bảo anh thực sự muốn lui về trang trại, một đến hai năm, để nghĩ cho thấu đáo, về Trung Nguyên và cho cả quốc gia. Nhưng những điều anh ấp ủ về tương lai dân tộc đang trở nên ngày càng quyết liệt và nặng nề. Nếu không biết đâu là vấn đề căn bản giữa quá nhiều vấn đề thì sẽ khó mà ra nổi. “Dân số vàng để làm gì, chi phí lao động rẻ, tiềm năng để làm gì, trí thông minh của người Việt để làm gì… nếu tất cả những nhân tố trên không được tận dụng đúng cách và khai thác hiệu quả?” Không phải chỉ có thanh niên hoang mang, ngay cả ông Phan Diễn (PV – Ủy viên Bộ Chính trị) khi nghe Đặng Lê Nguyên Vũ nói về những tham vọng dài hơi của anh cũng hoài nghi,“bay lên” như thế nào, làm sao mà “bay lên” được? Anh nói tất nhiên, phải từ từ giải quyết từng khâu, từng giai đoạn một, từ những vấn đề căn bản tiền đề cho tới bàn đạp để đất nước này “bay lên”. “Khi khoáng sản chỉ có giới hạn, đất đai cũng là hữu hạn, năng suất thì đang dần đi vào điểm bão hòa. Nếu không có một công thức mới, một năng lực mới cho người nông dân thì làm sao có thể tăng năng suất lên mười lần, hai ba chục lần? Còn nếu biết cách truyền bá công thức thành công, xây dựng thế hệ thanh niên hùng mạnh, thì đất nước này tự nhiên hùng mạnh.”
Mấy anh em học giả và bạn bè Việt kiều của Đặng Lê Nguyên Vũ vẫn luôn thắc mắc, thậm chí hỏi thẳng anh,“tôi thấy ông nhọn hoắt, điều gì làm ông nhọn hoắt?” Bởi họ thấy anh rất thẳng, lúc nào cũng thấy lo việc của người khác và không né tránh khi đề cập tới những tham vọng, mục đích của mình. Nhưng anh làm mọi thứ luôn vì cái chung chứ không có một động cơ, một mưu cầu cá nhân nào hết. Đặng Lê Nguyên Vũ cười bảo anh khó chịu như vậy, nhưng ai chịu được anh thì đó là người tốt, giống như anh là một cái thước đo. Anh kể câu chuyện vui là có một ông “trùm” an ninh và một ông “trùm” nhà báo – tổng biên tập một tờ báo lớn, hồi xưa ghét nhau kinh khủng, thậm chí là thù nhau. Nhưng hai ông lấy anh là thước đo: “Bởi anh chơi được với ông này, ông kia chơi được với anh, thì chắc là cũng hợp?” Rất nhiều người, ở nhiều vị trí và hoàn cảnh có khi là đối lập, nhưng họ đều rất tôn trọng Đặng Lê Nguyên Vũ. Bởi với anh, khi đã hiểu nhau, tư tưởng cùng ở một tầng rồi, thì nói là sẽ hiểu được thôi.
Anh nói anh cũng đã từng rất buồn khi mình tâm huyết lo lắng cho việc chung nhưng không phải ai cũng hiểu, thậm chí còn hiểu sai anh. Đúng là “Nghĩ trời đất vô cùng. Một mình tuôn giọt lệ”[1], anh trầm tư bảo. Nhưng rồi Đặng Lê Nguyên Vũ cũng đành tự an ủi mình, giống như người bác sỹ, có tâm chữa bệnh nhưng bệnh nhân cứ khăng khăng tôi không có bệnh, bởi họ không biết mình đang có bệnh, không hiểu vấn đề họ đang gặp phải. Nhưng, một khi đã có tâm, đã coi việc “chữa bệnh” là mục tiêu và trách nhiệm của mình, thì anh sẽ còn tiếp tục theo đuổi những mục tiêu đó, với cả cuộc đời phía trước. “Giống như những doanh nghiệp thật sự, thành công của họ trong bối cảnh như thế này là một hệ quả cho quá trình phụng sự cho những giá trị và đam mê riêng của chính mình.”
Có một vấn đề lớn hơn ở chỗ, sẽ nhiều người đặt câu hỏi: Anh trăn trở như vậy để đổi lấy điều gì? Tại sao anh không yên ổn với Trung Nguyên và riêng anh, bởi nếu không có những đề xuất 20 tỷ USD cho ngành cà phê, kế hoạch Việt Nam “bay lên”, các chương trình thanh niên khởi nghiệp hay học thuyết cà phê…, đâu chắc doanh thu Trung Nguyên sẽ giảm xuống? Nhưng nếu chỉ bằng lòng với hiện tại và không có tinh thần dámnghĩ lớn – nói lớn – và làm lớn ấy, liệu Trung Nguyên và Đặng Lê Nguyên Vũ có thể xây dựng được những cái hữu hình như ngày hôm nay không? Hay sẽ là một bác sỹ Đặng Lê Nguyên Vũ trong một bệnh viện nào đó và Trung Nguyên sẽ chỉ dừng lại ở một nhà máy cà phê nhỏ bé tại Buôn Mê Thuột mà thôi?
Có lẽ, chỉ chính anh mới hiểu…
“Tôi có cảm giác Vũ rất thông minh và là một nhà lãnh đạo thực thụ trong cái ngành nghề thuộc về giác quan này. Tầm nhìn của anh ấy có thể chỉ rõ công ty có thể làm được gì, và anh ta có thể kết nối tầm nhìn đó với đội ngũ nhân sự của mình… Henry Ford cũng thế, George Eastman và Steve Jobs cũng thế. Tôi không chắc xếp Vũ với những tên tuổi như thế thì có hợp không, nhưng anh ấy đã làm cho tôi thấy anh ta là một trong những doanh nhân thành đạt nhất Đông Nam Á”.
-Peter Timmer – Giáo sư Đại học Harvard-
Nếu độc giả chưa xem Phần 1, vui lòng xem tại link sau: http://tintucsach.blogspot.com/2013/12/nhung-nguoi-lam-chu-so-1-viet-nam-phan.html
NT. Alpha Books
Chia sẻ:
Chia sẻ
Thống Kê :